Bỏ qua tới nội dung
Vận động viên thể dục dụng cụ giữ tư thế chống thẳng tay trên vòng treo
← Tất cả bài viết
Khoa học thể thao

Vận động viên và nhà khoa học thể thao: nên tin ai? 4 sự khác biệt

10 lượt xem 0 bình luận

Trả lời nhanh: Một vận động viên đỉnh cao và một nhà nghiên cứu không trả lời cùng một loại câu hỏi. Kinh nghiệm trả lời rất tốt hai câu: cách này có hiệu quả với người này không, và hôm nay nên tập thế nào. Còn câu phương pháp nào tốt hơn cho số đông thì phải có nhóm đối chứng và phép đo mới kết luận được. Hai loại bằng chứng đó không thay thế cho nhau.

Bài viết đi qua 4 câu hỏi cụ thể, mỗi câu chỉ rõ bên nào trả lời tốt hơn và vì sao, dựa trên 7 nghiên cứu có mã PMID. Trong đó có một phép đo điện cơ trên 7 vận động viên vòng treo có trung bình 13 năm tập, cho thấy một câu hỏi mà kinh nghiệm nhiều năm không tự trả lời được, mà phải có phép đo.

Nội dung bài viết được triển khai từ video cùng chủ đề trên kênh của chúng tôi:
xem video trên TikTok.

Video của kênhXem video trên TikTokMở ở tab mới →

Vận động viên và chuyên gia khác nhau ở chỗ nào

Khác ở loại bằng chứng mà mỗi bên tạo ra.

Người tập đẩy tạ đòn trong phòng tập, có người đứng bảo hiểm phía sau
Hai loại bằng chứng cùng nói về một buổi tập: cảm nhận của người đang đẩy, và số đo của người đứng ngoài. Ảnh: Spc. Alex Amen, phạm vi công cộng.

Một vận động viên tích luỹ quan sát trên chính cơ thể mình, trong hàng nghìn buổi tập, ở điều kiện thật. Một nhà nghiên cứu tạo ra so sánh có kiểm soát trên một nhóm người, ở điều kiện được giữ ổn định.

Không bên nào kém hơn bên nào. Hai bên trả lời hai câu hỏi khác nhau.

Ba khái niệm sẽ xuất hiện nhiều lần trong bài:

  • Bằng chứng n bằng 1 là kết quả quan sát trên đúng một người, không có nhóm đối chứng để so.
  • Thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên là nghiên cứu bốc thăm chia người tham gia thành các nhóm, để chênh lệch cuối cùng không quy được về khác biệt sẵn có giữa các nhóm.
  • Có ý nghĩa thống kê nghĩa là chênh lệch đo được đủ lớn để khó giải thích bằng may rủi. Nó không cho biết chênh lệch đó có đáng kể trong thực tế hay không.

Câu hỏi nào kinh nghiệm của vận động viên trả lời tốt hơn

Những câu gắn với một cơ thể cụ thể, tại một thời điểm cụ thể.

Huấn luyện viên kiểm tra bàn tay của một vận động viên ngay tại chỗ thi đấu
Thứ mà kinh nghiệm đọc được trong vài giây, và không bảng số liệu nào ghi lại. Ảnh: Anthony Lazzaro, phạm vi công cộng.

Hôm nay học viên ngủ kém nên giảm tải hay giữ nguyên. Vai bên phải hơi lệch khi đẩy tới hiệp thứ ba. Động tác bắt đầu trôi ở đâu và nên dừng lúc nào. Đây là những thứ một người có mười năm huấn luyện đọc được trong vài giây, và không bảng số liệu nào ghi lại.

Kỹ năng vận động cũng vậy. Cách vào một tư thế khó học được bằng cách làm, bị sửa, rồi làm lại. Không nghiên cứu nào trong bài này đo được năng lực quan sát đó của huấn luyện viên, và việc chưa đo được không có nghĩa là nó không tồn tại.

Câu hỏi nào phải có phép đo mới trả lời được

Những câu so sánh cách tập nào tốt hơn cho số đông, và những câu hỏi cơ nào thực sự đang làm việc.

Kỹ thuật viên siêu âm đang đo và đọc kết quả trên màn hình
Kikuchi và Nakazato đo độ dày cơ bằng siêu âm — thứ không ai tự cảm nhận được. Ảnh: Christopher Hubenthal, Không quân Hoa Kỳ, phạm vi công cộng.

Đây là chỗ kinh nghiệm chạm giới hạn của nó, và có một nghiên cứu cho thấy điều đó rất rõ.

13 năm tập vẫn cần điện cơ mới biết bài bổ trợ huy động cơ nào

Một nghiên cứu quan sát bằng điện cơ công bố năm 2025 gắn điện cực đo 8 cơ trên 7 vận động viên vòng treo trình độ cao, trung bình 13 năm tập. Điện cơ đo tín hiệu điện của cơ khi co, cho biết cơ nào đang làm việc và mạnh tới đâu. Nhóm nghiên cứu so động tác chính — tư thế chống thẳng tay giữ người trên vòng treo — với 5 bài bổ trợ quen thuộc của giới thể dục dụng cụ.

Vận động viên thể dục dụng cụ thi đấu trên vòng treo
Động tác chính trong nghiên cứu Rosaci 2025 là tư thế giữ thăng bằng trên vòng treo. Ảnh: Martin Rulsch, Wikimedia Commons, CC BY-SA 4.0.
Biểu đồ chênh lệch hoạt hoá cơ giữa động tác chính và năm bài bổ trợ00,10,20,30,40,50,60,70,80,91eta bình phương0,5120,6740,641Ba cơ lệch hẳn khỏi bài bổ trợEta bình phương; 0,14 đã là hiệu ứng lớnCơ nhị đầuCơ thangCơ ngựcBiểu đồ chênh lệch hoạt hoá cơ giữa động tác chính và năm bài bổ trợ00,20,40,60,81eta bình phương0,5120,6740,641Ba cơ lệch hẳn khỏi bài bổ trợEta bình phương; 0,14 đã là hiệu ứnglớnCơ nhịđầuCơ thangCơ ngực
Số liệu lấy từ Rosaci và cộng sự 2025. Chỉ số eta bình phương cho biết bao nhiêu phần biến thiên là do đổi bài tập, không phải cho biết mức chênh lệch hoạt hoá là bao nhiêu phần trăm.

Ba cơ khác hẳn, một cơ không khác ở bài nào

Ở cơ thang, cơ ngực và cơ nhị đầu, chênh lệch giữa động tác chính và nhóm bài bổ trợ rất lớn. Kiểu phối hợp giữa các cơ cũng khác.

Nhưng không phải bài nào cũng vậy. Cơ lưng xô không khác biệt ở bất kỳ bài nào, và một trong năm bài bổ trợ gần trùng với động tác chính ở hầu hết các cơ. Nghĩa là nhóm bài bổ trợ quen thuộc bám sát động tác chính ở cơ này nhưng lệch hẳn ở cơ khác — ranh giới đó chỉ phép đo mới vạch ra được.

Nghiên cứu này chưa trả lời được điều gì

Nó đo mức hoạt hoá cơ ngay lúc đang thực hiện động tác, không đo tăng cơ và không đo hiệu quả sau một giai đoạn tập. Đây cũng là nghiên cứu quan sát trên 7 người, không chia nhóm ngẫu nhiên.

Một câu hỏi mà chỉ thử nghiệm trả lời được: hít đất hay tập tạ

Hỏi mười người tập lâu năm sẽ được mười câu trả lời khác nhau, và ai cũng có lý do từ trải nghiệm của mình.

Một người đang thực hiện động tác hít đất ngoài trời
Bài tay không, và câu hỏi nó có bằng tập tạ hay không. Ảnh: Thuỷ quân lục chiến Hoa Kỳ, phạm vi công cộng.

Một thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên năm 2017 chia 18 nam sinh viên thể dục thể thao thành hai nhóm 9 người, tuổi trung bình 20,2, đều đã tập tạ ít nhất một năm. Một nhóm đẩy tạ ở mức 40 phần trăm sức tối đa, nhóm kia hít đất, tư thế được điều chỉnh để chịu đúng mức tải đó. Mỗi buổi 3 hiệp, nghỉ 2 phút, cả hai nhóm đều tập đến khi không làm thêm được lần nào. Lịch 2 buổi mỗi tuần, kéo dài 8 tuần.

Biểu đồ độ dày ba nhóm cơ trước và sau tám tuần, ở nhóm hít đất và nhóm đẩy tạ17181920212223242526272829303132mmNgực · hít đấtNgực · đẩy tạTam đầu · hít đấtTam đầu · đẩy tạNhị đầu · hít đấtNhị đầu · đẩy tạTrướcSauCả hai nhóm đều dày lênĐộ dày cơ, mm — trước và sau 8 tuầnBiểu đồ độ dày ba nhóm cơ trước và sau tám tuần, ở nhóm hít đất và nhóm đẩy tạ1520253035mmNgực · hítđấtNgực ·đẩy tạTam đầu ·hít đấtTam đầu ·đẩy tạNhị đầu ·hít đấtNhị đầu ·đẩy tạTrướcSauCả hai nhóm đều dày lênĐộ dày cơ, mm — trước và sau 8 tuần
Số liệu lấy từ Bảng 1 của Kikuchi và Nakazato 2017. Cơ ngực và cơ tam đầu dày thêm ở cả hai nhóm. Cơ nhị đầu chỉ tăng có ý nghĩa ở nhóm đẩy tạ khi so với chính họ.
Chỉ số Nhóm hít đất so với chính họ Nhóm đẩy tạ so với chính họ So trực tiếp hai nhóm
Cơ ngực lớn Tăng, 17,0 lên 20,8 mm Tăng, 17,8 lên 22,5 mm Không khác biệt có ý nghĩa
Cơ tam đầu Tăng, 27,5 lên 30,4 mm Tăng, 26,3 lên 27,8 mm Không khác biệt có ý nghĩa
Cơ nhị đầu Không tăng có ý nghĩa Tăng, 28,4 lên 31,5 mm Không khác biệt có ý nghĩa
Sức mạnh đẩy ngực tối đa Tăng, 61,1 lên 64,2 kg Tăng, 60,0 lên 65,0 kg Không khác biệt có ý nghĩa
Sức bền cơ, số lần đẩy được ở mức tải nhẹ Thay đổi không có ý nghĩa, 31,3 xuống 29,6 lần Thay đổi không có ý nghĩa, 29,8 lên 32,8 lần Có khác biệt, nghiêng về nhóm đẩy tạ

Cột dễ bị bỏ qua nhất: so trực tiếp hai nhóm

Cơ nhị đầu là khác biệt trong nội bộ từng nhóm, không phải khác biệt giữa hai nhóm. Khi so trực tiếp, không vị trí cơ nào khác biệt có ý nghĩa, sức mạnh tối đa cũng vậy.

Nhưng có đúng một chỗ hai nhóm khác nhau thật: số lần đẩy được ở mức tải nhẹ. Cả hai nhóm đều làm cùng một bài kiểm tra là đẩy tạ ở mức 40 phần trăm sức tối đa, và phần trăm thay đổi của hai nhóm khác nhau có ý nghĩa, nghiêng về nhóm đẩy tạ. Đây là chi tiết đi ngược với kết luận gọn gàng của nghiên cứu, nên càng phải nêu.

Với 9 người mỗi nhóm, kết quả này chỉ có nghĩa là không tìm thấy khác biệt, chứ chưa chứng minh được hai cách tập là như nhau. Một khác biệt nhỏ vẫn có thể tồn tại mà nghiên cứu không đủ sức phát hiện.

Vì sao không ai tự trả lời được câu này bằng kinh nghiệm

Vì muốn biết cách nào tốt hơn thì phải có hai nhóm tập song song, được chia ngẫu nhiên, đo bằng máy siêu âm trước và sau. Một người tập chỉ có một cơ thể và không thể vừa là nhóm này vừa là nhóm kia.

Một thử nghiệm khác năm 2018 cho 23 nam giới tập theo hai cách trong 4 tuần. Câu mở đầu của bài báo đó xếp thẳng calisthenics vào nhóm tập kháng lực, tức là bài tay không vẫn nằm trong phạm vi của khoa học thể thao. Sức mạnh tăng ở cả hai nhóm, độ dày cơ thì không nhóm nào tăng có ý nghĩa. Nhóm tập bài nào thì tiến bộ hơn trên chính thang đo của bài đó, đúng nguyên tắc thích nghi đặc thù.

Chuyên gia trong ngành làm việc theo quy trình nào

Bằng cách rà soát có cấu trúc những gì đã được công bố, rồi ghi lại chỗ nào đồng thuận và chỗ nào chưa.

Một phiên thảo luận của hội đồng chuyên môn quanh bàn tròn
Đồng thuận chuyên gia là ý kiến được thu thập có cấu trúc, không phải số đo mới. Ảnh: David Bruce, CC BY-SA 2.0.

Năm 2025, một bản đồng thuận theo phương pháp Delphi với 20 chuyên gia đã rà soát các khuyến nghị về giãn cơ. Ngưỡng đồng thuận tối thiểu là 80 phần trăm, và tài liệu họ dựa vào là các tổng quan hệ thống đã công bố.

Điểm đáng chú ý không nằm ở kết luận cụ thể của họ, mà ở cách làm. Hội đồng gồm những người vừa có kinh nghiệm thực hành vừa làm nghiên cứu. Họ không dựa vào trực giác của một người, và họ ghi rõ mức đồng thuận cho từng mệnh đề.

Cần nói rõ giới hạn. Đồng thuận chuyên gia là ý kiến được thu thập có cấu trúc, không phải số đo mới, nên nó đứng dưới thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên trên thang bằng chứng.

Y văn nhắc tới Ronaldo ở vai trò nào

Ở vai trò một vận động viên kể lại quan hệ với huấn luyện viên của mình, không phải ở vai trò người đưa ra khuyến nghị phương pháp.

Huấn luyện viên bóng đá đang chỉ dẫn cho cầu thủ trong buổi tập
Quan hệ giữa huấn luyện viên và vận động viên là chủ đề của Jowett 2025. Ảnh: Darren McKinstry, CC BY-SA 4.0.

Một bài tổng kết 25 năm nghiên cứu về quan hệ giữa huấn luyện viên và vận động viên đăng năm 2025 nhắc tên Cristiano Ronaldo cùng Michael Phelps và Serena Williams. Họ là những vận động viên từng nói về quan hệ với huấn luyện viên của mình.

Nghiên cứu chỉ nói đến chừng đó. Nhận xét về ranh giới phát ngôn là quan sát của chúng tôi trên chính chỗ trích dẫn này, không phải kết quả nghiên cứu. Về giới hạn của nguồn: đây là bài tổng quan khái niệm của một tác giả, không thu thập dữ liệu mới và không có cỡ mẫu.

Ngay cả việc mô tả chính xác một vận động viên đang làm gì cũng cần có công cụ. Khi so kiểu chơi của Ronaldo và Messi, nhóm nghiên cứu năm 2017 dùng một hệ thống quan sát gồm 9 tiêu chí mở rộng thành 50 hạng mục. Nghiên cứu đó quan sát đúng 2 cầu thủ nên nó chỉ mô tả, chứ không suy ra nguyên nhân.

Chỗ mà nghiên cứu không với tới

Cỡ mẫu thường nhỏ. Thời gian theo dõi thường ngắn. Điều kiện phòng thí nghiệm khác phòng tập.

Biểu đồ cột số người thực sự được đo trong bảy nguồn của bài024681012141618202224người được đo187200023Nghiên cứu lớn nhất: 23 ngườiSố người được đo, theo từng nguồnKotarsky 2018Kikuchi 2017Rosaci 2025Castañer 2017Wang & Shan 2023Warneke 2025Jowett 2025Biểu đồ cột số người thực sự được đo trong bảy nguồn của bài0510152025người được đo187200023Nghiên cứu lớn nhất: 23ngườiSố người được đo, theo từng nguồnKotarsky2018Kikuchi2017Rosaci2025Castañer2017Wang &Shan 2023Warneke2025Jowett2025
Số người thực sự được đo trong 7 nguồn của bài này. Ba nguồn không đo chỉ số trên người nào: một mô phỏng máy tính, một bài tổng quan khái niệm, và một bản hỏi ý kiến chuyên gia.

Biểu đồ trên là phần tự kiểm của bài. Nghiên cứu đo nhiều người nhất mới có 23 người tham gia. Bài này chỉ nêu được xu hướng của bằng chứng, chưa đủ để nói con số chính xác cho từng người.

Với những kỹ năng rất chuyên biệt thì khoảng trống còn rõ hơn. Một mô hình cơ sinh học chín đoạn công bố năm 2023 mô phỏng động tác planche trên 80 kiểu cơ thể và chỉ ra kiểu hình thể nào có lợi thế đòn bẩy. Nhưng đó là mô phỏng máy tính, chưa có thử nghiệm nào trên người thật kiểm chứng rằng kế hoạch theo mô hình đó dạy được nhanh hơn.

Bốn câu hỏi và bên nào trả lời tốt hơn

Câu hỏi Kinh nghiệm đóng góp gì Nghiên cứu đóng góp gì
Làm sao vào được một tư thế khó Cách vào tư thế, các bài dẫn dắt, sửa lỗi ngay tại chỗ Kiểu cơ thể nào có lợi thế đòn bẩy, theo mô phỏng
Hôm nay nên giảm tải không Đọc dấu hiệu của người trước mặt Chưa có nghiên cứu nào trong bài đo được việc này
Cách tập nào tăng cơ tốt hơn cho số đông Nêu giả thuyết đáng kiểm chứng Nhóm đối chứng và phép đo, để kết quả khó quy về may rủi
Bài bổ trợ này huy động cơ nào Cảm giác trong lúc tập, không thay được phép đo Điện cơ cho biết cơ nào co và co mạnh tới đâu

Vấn đề chỉ phát sinh khi vận động viên trả lời câu hỏi vốn thuộc về phép đo, hoặc khi nhà nghiên cứu trả lời câu hỏi vốn thuộc về người đứng trong phòng tập.

Tóm tắt

  • Kinh nghiệm của vận động viên và bằng chứng nghiên cứu trả lời hai loại câu hỏi khác nhau, không thay thế cho nhau.
  • Kinh nghiệm mạnh nhất ở câu hỏi gắn với một cơ thể cụ thể tại một thời điểm cụ thể.
  • Nghiên cứu mạnh nhất ở câu hỏi cách nào tốt hơn cho số đông, và ở việc đo xem cơ nào thực sự làm việc.
  • Bảy vận động viên có trung bình 13 năm tập vẫn cần điện cơ mới biết bài bổ trợ của mình huy động cơ nào.
  • Bảy nguồn trong bài đều cỡ mẫu nhỏ, nghiên cứu đo nhiều người nhất cũng chỉ có 23 người, nên chúng chỉ nêu được xu hướng chứ chưa cho con số chính xác.

Câu hỏi thường gặp

Vận động viên đỉnh cao nói về tập luyện thì có đáng tin không

Đáng tin trong phạm vi họ trực tiếp trải qua, như kỹ thuật động tác và cách duy trì kỷ luật. Ra ngoài phạm vi đó thì lời của họ là bằng chứng trên một người, và cần đối chiếu với số liệu trên nhóm lớn hơn.

Kinh nghiệm 10 năm có bằng một nghiên cứu không

Không so được, vì hai bên đo hai thứ khác nhau. Mười năm quan sát trên một người là bằng chứng rất mạnh cho chính người đó, và rất yếu cho câu hỏi điều gì đúng với số đông.

Vì sao nghiên cứu hay bị gọi là lý thuyết suông

Có hai phía. Kết quả nghiên cứu thường bị trích rời khỏi bối cảnh, ví dụ một thử nghiệm 4 tuần bị đọc như thể nó kết luận được về tăng cơ. Nhưng cũng có phần thật: nghiên cứu chạy trong điều kiện kiểm soát, cỡ mẫu nhỏ và thời gian ngắn, khác xa phòng tập hằng ngày.

Huấn luyện viên có cần đọc nghiên cứu gốc không

Không bắt buộc, nhưng cần biết chỗ nào thì câu trả lời phải đến từ số liệu chứ không từ cảm nhận. Biết ranh giới đó quan trọng hơn là đọc được bao nhiêu bài báo.

Khi vận động viên và nghiên cứu nói ngược nhau thì tin ai

Xem câu hỏi đang bàn thuộc loại nào. Nếu là câu về cảm giác và cách thực hiện trên một người cụ thể thì nghe người trong cuộc. Nếu là câu về hiệu quả trung bình của một phương pháp thì nghe số liệu.

Nguồn tham khảo

  • Rosaci G, Nigro F, Cortesi M, Ciacci S, Bartolomei S, Fantozzi S (2025). Electromyographic Analysis of the Support Scale in Gymnastics and Its Related Preconditioning Strengthening Exercises. Journal of Strength and Conditioning Research, 39(6), 680–686. PMID 40014850.
  • Kikuchi N, Nakazato K (2017). Low-load bench press and push-up induce similar muscle hypertrophy and strength gain. Journal of Exercise Science and Fitness, 15(1), 37–42. PMID 29541130.
  • Kotarsky CJ, Christensen BK, Miller JS, Hackney KJ (2018). Effect of Progressive Calisthenic Push-up Training on Muscle Strength and Thickness. Journal of Strength and Conditioning Research, 32(3), 651–659. PMID 29466268.
  • Warneke K, Thomas E, Blazevich AJ và cộng sự (2025). Practical recommendations on stretching exercise: A Delphi consensus statement of international research experts. Journal of Sport and Health Science, 14, 101067. PMID 40513717.
  • Jowett S (2025). 25 years of relationship research in sport: The quality of the coach-athlete relationship as defined by Closeness, Commitment, Complementarity and Co-orientation (3+1Cs Model). Psychology of Sport and Exercise, 80, 102909. PMID 40473086.
  • Castañer M, Barreira D, Camerino O, Anguera MT, Fernandes T, Hileno R (2017). Mastery in Goal Scoring, T-Pattern Detection, and Polar Coordinate Analysis of Motor Skills Used by Lionel Messi and Cristiano Ronaldo. Frontiers in Psychology, 8, 741. PMID 28553245.
  • Wang X, Shan G (2023). Insights from a Nine-Segment Biomechanical Model and Its Simulation for Anthropometrical Influence on Individualized Planche Learning and Training in Gymnastics. Bioengineering, 10(7), 761. PMID 37508787.

Chủ đề vận động viên và chuyên gia này cũng được trình bày dưới dạng video trên kênh của chúng tôi:
xem video trên TikTok.

Cùng một cách đọc bằng chứng, áp vào một chất bổ sung quen thuộc: bột củ dền và ngưỡng nitrat 372 mg mỗi ngày. Xem thêm các bài viết chuyên môn khác của chúng tôi, hoặc đọc bài về cách đọc một con số sinh lý cho đúng nếu bạn quan tâm tới việc phân biệt liên hệ thống kê với cơ chế thật. Cùng chủ đề tập kháng lực, xem thêm bài Heavy Duty hay Blood and Guts.

Cùng cách đọc đó áp vào một lời đồn khác: càng tập thể dục càng nhanh già — chuỗi lập luận nghe rất thuyết phục nhưng gãy ở bốn chỗ.


Về nguồn số liệu. Mọi con số trong bài đều đối chiếu trực tiếp với tài liệu gốc và có liên kết tới bản gốc để bạn tự kiểm. Nếu bạn tìm thấy chỗ sai, viết cho chúng tôi qua admin@ctgfitness.com và chúng tôi sẽ sửa công khai.

Nội dung trên mang tính thông tin chuyên môn, không thay thế chẩn đoán hoặc điều trị y khoa. Nếu bạn có bệnh lý nền, hãy trao đổi với bác sĩ trước khi thay đổi chế độ tập luyện.

Bình luận

Chưa có bình luận nào. Bạn là người đầu tiên.

Để lại bình luận

Chỉ cần cho biết tên là bình luận được. Email và số điện thoại không bắt buộc; nếu bạn có điền thì chúng chỉ dùng để liên hệ lại, không hiển thị công khai và không dùng vào việc khác.

Không bắt buộc. Không hiển thị công khai.

Không bắt buộc. Không hiển thị công khai.

Chat Zalo

0708673007